
Khi đôi mắt cần nhìn gần hơn
Vi phẫu không ra đời trong một khoảnh khắc.
Nó hình thành qua nhiều chặng, ở nhiều chuyên khoa, khi phẫu thuật bắt đầu được thực hiện dưới kính hiển vi, với dụng cụ và chỉ khâu chuyên dùng cho những mạch máu, thần kinh và mạch bạch huyết rất nhỏ [1].
Nhưng trước khi nối được một mạch máu nhỏ, có một câu hỏi căn bản hơn.
Làm sao để nhìn thấy nó đủ rõ?
Năm 1921, bác sĩ tai mũi họng người Thụy Điển Carl Olof Nylén dùng kính hiển vi một mắt trong phẫu thuật tai. Theo tổng quan của Mudry, đây là lần đầu kính hiển vi được dùng trong phẫu thuật tai [2].

Chỉ một năm sau, Gunnar Holmgren thay kính một mắt bằng kính hai mắt [2].
Một thay đổi tưởng như nhỏ.
Nhưng con đường phía trước vẫn còn dài.
Những chiếc kính khi ấy có trường nhìn hẹp, ánh sáng yếu. Phải đến năm 1951, khi mẫu kính do Littmann và hãng Zeiss hoàn thiện ra đời, kính hiển vi phẫu thuật mới dần được dùng rộng rãi [2].
Con người đã nhìn được sâu hơn vào một thế giới rất nhỏ.
Bước tiếp theo là gì?
Khi những mạch máu nhỏ có thể được nối lại
Năm 1960, Julius H. Jacobson II và Ernesto L. Suarez báo cáo kỹ thuật nối mạch máu nhỏ dưới kính hiển vi [3]. Hai năm sau, họ tiếp tục công bố về phẫu thuật vi mạch [4].
Kính hiển vi lúc này không chỉ giúp bác sĩ nhìn.
Nó trở thành một phần của kỹ thuật mổ.
Năm 1966, Harry J. Buncke và W.P. Schulz công bố ca nối lại toàn bộ tai thỏ bằng kỹ thuật nối mạch cực nhỏ [5]. Đó là bước chuẩn bị cho những ca mổ trên người.

Và ở Nara, Nhật Bản, điều ấy đã thành hiện thực.
Năm 1965, Shigeo Komatsu và Susumu Tamai nối lại thành công một ngón cái bị đứt rời hoàn toàn; kết quả được công bố năm 1968 [6].
Những cấu trúc từng quá nhỏ với phẫu thuật thông thường, giờ đã nằm trong tầm tay của phẫu thuật viên.
Từ bàn tay đến não bộ
Vi phẫu tiếp tục đi xa hơn.
Không chỉ ở những mạch máu ngoại vi.
Năm 1967, M. Gazi Yaşargil thực hiện ca cầu nối động mạch thái dương nông – động mạch não giữa (STA–MCA) đầu tiên [7]. Năm 1968, ông cùng R.M.P. Donaghy công bố về kỹ thuật vi phẫu mạch [8].

Khi nối mạch nhỏ đã khả thi, một câu hỏi khác xuất hiện.
Nếu nối được mạch, liệu có thể đưa cả một mảnh mô đến một nơi khác?
Năm 1973, Rollin K. Daniel và G. Ian Taylor công bố kỹ thuật chuyển vạt đảo đến vùng xa bằng nối vi mạch [9]. Năm 1974, Kiyonori Harii và cộng sự báo cáo chuyển vạt da đầu tự do có tóc [10].
Vi phẫu không còn là câu chuyện của một thao tác.
Nó mở ra một cách mới để di chuyển và tái tạo mô.
Khi từng chi tiết của dụng cụ cũng trở thành vấn đề
Nhìn thấy cấu trúc nhỏ là chưa đủ.
Đôi tay còn cần những dụng cụ vừa với kích thước ấy.
Năm 1974, Robert D. Acland mô tả một kẹp mạch máu mới và dụng cụ giữ chỉ neo khi nối vi mạch [11].

Một chi tiết kỹ thuật.
Nhưng nó cho thấy một điều: khi cấu trúc cần thao tác ngày càng nhỏ, chính dụng cụ cũng phải thay đổi theo.
Vi phẫu vì thế luôn gắn với ba yếu tố đi cùng nhau: kính hiển vi phẫu thuật, dụng cụ vi phẫu và chỉ khâu nhỏ [1].
Thiếu một trong ba, đôi tay khó đi xa hơn vào thế giới rất nhỏ ấy.

Và giới hạn lại nhỏ thêm một lần nữa
Năm 1989, Isao Koshima và S. Soeda mô tả vạt da dựa trên động mạch thượng vị dưới mà không lấy cơ thẳng bụng, đặt nền tảng cho vạt nhánh xuyên [12].
Hành trình thu nhỏ vẫn chưa dừng lại.
Năm 2000, Koshima và cộng sự báo cáo nối bạch huyết – tĩnh mạch bằng siêu vi phẫu để điều trị phù bạch huyết chi trên [13].
Từ chiếc kính một mắt trong phẫu thuật tai năm 1921 đến những miệng nối bạch huyết – tĩnh mạch, vi phẫu đã đi qua gần tám thập kỷ.
Không phải bằng một bước nhảy.
Mà bằng rất nhiều bước nhỏ.
Một chiếc kính nhìn rõ hơn. Một kỹ thuật nối mạch nhỏ hơn. Một dụng cụ vừa tay hơn. Một sợi chỉ mảnh hơn.
Mỗi khi giới hạn tưởng như đã được xác lập, những đôi tay phẫu thuật lại tiến thêm một chút.
Ngày nay, vi phẫu có mặt trong phẫu thuật tạo hình, bàn tay, thần kinh và tai mũi họng.
Nhưng phía sau tất cả vẫn là một điều rất căn bản:
Muốn can thiệp vào những cấu trúc nhỏ, trước hết phải nhìn thấy chúng.
Tài liệu tham khảo
- Tamai S. History of microsurgery. Plast Reconstr Surg. 2009;124(6 Suppl):e282-e294. doi.org/10.1097/PRS.0b013e3181bf825e
- Mudry A. The history of the microscope for use in ear surgery. Am J Otol. 2000;21(6):877-86. pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/11078079/
- Jacobson JH, Suarez EL. Microsurgery in anastomosis of small vessels. Surg Forum. 1960;11:243-5.
- Jacobson JH 2nd, Suarez EL. Microvascular surgery. Dis Chest. 1962;41:220-4. doi.org/10.1378/chest.41.2.220
- Buncke HJ Jr, Schulz WP. Total ear reimplantation in the rabbit utilising microminiature vascular anastomoses. Br J Plast Surg. 1966;19(1):15-22. doi.org/10.1016/s0007-1226(66)80003-6
- Komatsu S, Tamai S. Successful replantation of a completely cut-off thumb. Plast Reconstr Surg. 1968;42(4):374-7. doi.org/10.1097/00006534-196810000-00021
- Vilela MD, Newell DW. Superficial temporal artery to middle cerebral artery bypass: past, present, and future. Neurosurg Focus. 2008;24(2):E2. doi.org/10.3171/FOC/2008/24/2/E2
- Donaghy RM, Yasargil G. Microangeional surgery and its techniques. Prog Brain Res. 1968;30:263-7. doi.org/10.1016/s0079-6123(08)61469-7
- Daniel RK, Taylor GI. Distant transfer of an island flap by microvascular anastomoses. Plast Reconstr Surg. 1973;52(2):111-7. doi.org/10.1097/00006534-197308000-00001
- Harii K, Omori K, Omori S. Hair transplantation with free scalp flaps. Plast Reconstr Surg. 1974;53(4):410-3. doi.org/10.1097/00006534-197404000-00005
- Acland RD. Microvascular anastomosis: a device for holding stay sutures and a new vascular clamp. Surgery. 1974;75(2):185-7. pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/4590759/
- Koshima I, Soeda S. Inferior epigastric artery skin flaps without rectus abdominis muscle. Br J Plast Surg. 1989;42(6):645-8. doi.org/10.1016/0007-1226(89)90075-1
- Koshima I, Inagawa K, Urushibara K, Moriguchi T. Supermicrosurgical lymphaticovenular anastomosis for the treatment of lymphedema in the upper extremities. J Reconstr Microsurg. 2000;16(6):437-42. doi.org/10.1055/s-2006-947150
