MGI Medical

BÀI VIẾT

Nhìn rõ để nối lại

Lịch sử vi phẫu là hành trình nhiều thế hệ bác sĩ đưa phẫu thuật vào những cấu trúc ngày càng nhỏ, bằng kính hiển vi, dụng cụ chuyên dùng và những sợi chỉ nhỏ hơn.

Nhìn rõ để nối lại

Khi đôi mắt cần nhìn gần hơn

Vi phẫu không ra đời trong một khoảnh khắc.

Nó hình thành qua nhiều chặng, ở nhiều chuyên khoa, khi phẫu thuật bắt đầu được thực hiện dưới kính hiển vi, với dụng cụ và chỉ khâu chuyên dùng cho những mạch máu, thần kinh và mạch bạch huyết rất nhỏ [1].

Nhưng trước khi nối được một mạch máu nhỏ, có một câu hỏi căn bản hơn.

Làm sao để nhìn thấy nó đủ rõ?

Năm 1921, bác sĩ tai mũi họng người Thụy Điển Carl Olof Nylén dùng kính hiển vi một mắt trong phẫu thuật tai. Theo tổng quan của Mudry, đây là lần đầu kính hiển vi được dùng trong phẫu thuật tai [2].

Carl-Olof Nylén (1892–1978), bác sĩ tai mũi họng người Thụy Điển. Năm 1921, ông dùng kính hiển vi một mắt trong phẫu thuật tai – mốc được xem là khởi đầu của vi phẫu. Ảnh: Swedish Olympic Committee (khoảng thập niên 1910) / Wikimedia Commons, Public domain
Carl-Olof Nylén (1892–1978), bác sĩ tai mũi họng người Thụy Điển. Năm 1921, ông dùng kính hiển vi một mắt trong phẫu thuật tai – mốc được xem là khởi đầu của vi phẫu. Ảnh: Swedish Olympic Committee (khoảng thập niên 1910) / Wikimedia Commons, Public domain

Chỉ một năm sau, Gunnar Holmgren thay kính một mắt bằng kính hai mắt [2].

Một thay đổi tưởng như nhỏ.

Nhưng con đường phía trước vẫn còn dài.

Những chiếc kính khi ấy có trường nhìn hẹp, ánh sáng yếu. Phải đến năm 1951, khi mẫu kính do Littmann và hãng Zeiss hoàn thiện ra đời, kính hiển vi phẫu thuật mới dần được dùng rộng rãi [2].

Con người đã nhìn được sâu hơn vào một thế giới rất nhỏ.

Bước tiếp theo là gì?

Khi những mạch máu nhỏ có thể được nối lại

Năm 1960, Julius H. Jacobson II và Ernesto L. Suarez báo cáo kỹ thuật nối mạch máu nhỏ dưới kính hiển vi [3]. Hai năm sau, họ tiếp tục công bố về phẫu thuật vi mạch [4].

Kính hiển vi lúc này không chỉ giúp bác sĩ nhìn.

Nó trở thành một phần của kỹ thuật mổ.

Năm 1966, Harry J. Buncke và W.P. Schulz công bố ca nối lại toàn bộ tai thỏ bằng kỹ thuật nối mạch cực nhỏ [5]. Đó là bước chuẩn bị cho những ca mổ trên người.

Robert D. Acland (ngồi) và Harry J. Buncke (đứng) – Buncke là một trong những người đặt nền móng cho vi phẫu tạo hình và nối ghép. Ảnh: S. Raja Sabapathy, Indian J Plast Surg 2025 (doi:10.1055/s-0045-1814458), CC BY 4.0
Robert D. Acland (ngồi) và Harry J. Buncke (đứng) – Buncke là một trong những người đặt nền móng cho vi phẫu tạo hình và nối ghép. Ảnh: S. Raja Sabapathy, Indian J Plast Surg 2025 (doi:10.1055/s-0045-1814458), CC BY 4.0

Và ở Nara, Nhật Bản, điều ấy đã thành hiện thực.

Năm 1965, Shigeo Komatsu và Susumu Tamai nối lại thành công một ngón cái bị đứt rời hoàn toàn; kết quả được công bố năm 1968 [6].

Những cấu trúc từng quá nhỏ với phẫu thuật thông thường, giờ đã nằm trong tầm tay của phẫu thuật viên.

Từ bàn tay đến não bộ

Vi phẫu tiếp tục đi xa hơn.

Không chỉ ở những mạch máu ngoại vi.

Năm 1967, M. Gazi Yaşargil thực hiện ca cầu nối động mạch thái dương nông – động mạch não giữa (STA–MCA) đầu tiên [7]. Năm 1968, ông cùng R.M.P. Donaghy công bố về kỹ thuật vi phẫu mạch [8].

Kìm đặt clip và 2 clip phình mạch Yaşargil (hiện vật Bảo tàng Wellcome, Anh). Clip do GS. M. Gazi Yaşargil sáng chế – người tiên phong đưa vi phẫu vào phẫu thuật thần kinh. Ảnh: Wellcome Collection / Wikimedia Commons, CC BY 4.0
Kìm đặt clip và 2 clip phình mạch Yaşargil (hiện vật Bảo tàng Wellcome, Anh). Clip do GS. M. Gazi Yaşargil sáng chế – người tiên phong đưa vi phẫu vào phẫu thuật thần kinh. Ảnh: Wellcome Collection / Wikimedia Commons, CC BY 4.0

Khi nối mạch nhỏ đã khả thi, một câu hỏi khác xuất hiện.

Nếu nối được mạch, liệu có thể đưa cả một mảnh mô đến một nơi khác?

Năm 1973, Rollin K. Daniel và G. Ian Taylor công bố kỹ thuật chuyển vạt đảo đến vùng xa bằng nối vi mạch [9]. Năm 1974, Kiyonori Harii và cộng sự báo cáo chuyển vạt da đầu tự do có tóc [10].

Vi phẫu không còn là câu chuyện của một thao tác.

Nó mở ra một cách mới để di chuyển và tái tạo mô.

Khi từng chi tiết của dụng cụ cũng trở thành vấn đề

Nhìn thấy cấu trúc nhỏ là chưa đủ.

Đôi tay còn cần những dụng cụ vừa với kích thước ấy.

Năm 1974, Robert D. Acland mô tả một kẹp mạch máu mới và dụng cụ giữ chỉ neo khi nối vi mạch [11].

GS. Robert D. Acland (1941–2016), nhà vi phẫu, người thiết kế kẹp mạch vi phẫu mang tên ông và tác giả sách hướng dẫn thực hành vi phẫu mạch máu. Ảnh: S. Raja Sabapathy, Indian J Plast Surg 2025 (doi:10.1055/s-0045-1814458), CC BY 4.0
GS. Robert D. Acland (1941–2016), nhà vi phẫu, người thiết kế kẹp mạch vi phẫu mang tên ông và tác giả sách hướng dẫn thực hành vi phẫu mạch máu. Ảnh: S. Raja Sabapathy, Indian J Plast Surg 2025 (doi:10.1055/s-0045-1814458), CC BY 4.0

Một chi tiết kỹ thuật.

Nhưng nó cho thấy một điều: khi cấu trúc cần thao tác ngày càng nhỏ, chính dụng cụ cũng phải thay đổi theo.

Vi phẫu vì thế luôn gắn với ba yếu tố đi cùng nhau: kính hiển vi phẫu thuật, dụng cụ vi phẫu và chỉ khâu nhỏ [1].

Thiếu một trong ba, đôi tay khó đi xa hơn vào thế giới rất nhỏ ấy.

Tư thế đặt tay và cầm dụng cụ để giảm run tay – điều Acland coi là bước ngoặt trong kỹ thuật vi phẫu, dẫn tới việc thiết kế dụng cụ. Ảnh: S. Raja Sabapathy, Indian J Plast Surg 2025 (doi:10.1055/s-0045-1814458), CC BY 4.0
Tư thế đặt tay và cầm dụng cụ để giảm run tay – điều Acland coi là bước ngoặt trong kỹ thuật vi phẫu, dẫn tới việc thiết kế dụng cụ. Ảnh: S. Raja Sabapathy, Indian J Plast Surg 2025 (doi:10.1055/s-0045-1814458), CC BY 4.0

Và giới hạn lại nhỏ thêm một lần nữa

Năm 1989, Isao Koshima và S. Soeda mô tả vạt da dựa trên động mạch thượng vị dưới mà không lấy cơ thẳng bụng, đặt nền tảng cho vạt nhánh xuyên [12].

Hành trình thu nhỏ vẫn chưa dừng lại.

Năm 2000, Koshima và cộng sự báo cáo nối bạch huyết – tĩnh mạch bằng siêu vi phẫu để điều trị phù bạch huyết chi trên [13].

Từ chiếc kính một mắt trong phẫu thuật tai năm 1921 đến những miệng nối bạch huyết – tĩnh mạch, vi phẫu đã đi qua gần tám thập kỷ.

Không phải bằng một bước nhảy.

Mà bằng rất nhiều bước nhỏ.

Một chiếc kính nhìn rõ hơn. Một kỹ thuật nối mạch nhỏ hơn. Một dụng cụ vừa tay hơn. Một sợi chỉ mảnh hơn.

Mỗi khi giới hạn tưởng như đã được xác lập, những đôi tay phẫu thuật lại tiến thêm một chút.

Ngày nay, vi phẫu có mặt trong phẫu thuật tạo hình, bàn tay, thần kinh và tai mũi họng.

Nhưng phía sau tất cả vẫn là một điều rất căn bản:

Muốn can thiệp vào những cấu trúc nhỏ, trước hết phải nhìn thấy chúng.

Tài liệu tham khảo

  1. Tamai S. History of microsurgery. Plast Reconstr Surg. 2009;124(6 Suppl):e282-e294. doi.org/10.1097/PRS.0b013e3181bf825e
  2. Mudry A. The history of the microscope for use in ear surgery. Am J Otol. 2000;21(6):877-86. pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/11078079/
  3. Jacobson JH, Suarez EL. Microsurgery in anastomosis of small vessels. Surg Forum. 1960;11:243-5.
  4. Jacobson JH 2nd, Suarez EL. Microvascular surgery. Dis Chest. 1962;41:220-4. doi.org/10.1378/chest.41.2.220
  5. Buncke HJ Jr, Schulz WP. Total ear reimplantation in the rabbit utilising microminiature vascular anastomoses. Br J Plast Surg. 1966;19(1):15-22. doi.org/10.1016/s0007-1226(66)80003-6
  6. Komatsu S, Tamai S. Successful replantation of a completely cut-off thumb. Plast Reconstr Surg. 1968;42(4):374-7. doi.org/10.1097/00006534-196810000-00021
  7. Vilela MD, Newell DW. Superficial temporal artery to middle cerebral artery bypass: past, present, and future. Neurosurg Focus. 2008;24(2):E2. doi.org/10.3171/FOC/2008/24/2/E2
  8. Donaghy RM, Yasargil G. Microangeional surgery and its techniques. Prog Brain Res. 1968;30:263-7. doi.org/10.1016/s0079-6123(08)61469-7
  9. Daniel RK, Taylor GI. Distant transfer of an island flap by microvascular anastomoses. Plast Reconstr Surg. 1973;52(2):111-7. doi.org/10.1097/00006534-197308000-00001
  10. Harii K, Omori K, Omori S. Hair transplantation with free scalp flaps. Plast Reconstr Surg. 1974;53(4):410-3. doi.org/10.1097/00006534-197404000-00005
  11. Acland RD. Microvascular anastomosis: a device for holding stay sutures and a new vascular clamp. Surgery. 1974;75(2):185-7. pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/4590759/
  12. Koshima I, Soeda S. Inferior epigastric artery skin flaps without rectus abdominis muscle. Br J Plast Surg. 1989;42(6):645-8. doi.org/10.1016/0007-1226(89)90075-1
  13. Koshima I, Inagawa K, Urushibara K, Moriguchi T. Supermicrosurgical lymphaticovenular anastomosis for the treatment of lymphedema in the upper extremities. J Reconstr Microsurg. 2000;16(6):437-42. doi.org/10.1055/s-2006-947150

Nhận catalogue